AIInAn.comAI In Ấn
Nền tảng in ấn cho người dùng AI

Thuật ngữ in ấn: hơn 40 từ nhà in hay nói và nghĩa thật của chúng

Bình trang, nhíp, bù hao, in trở, 4/0, bế demi, cấn, bồi, ép kim, phủ UV định hình: giải nghĩa thuật ngữ in ấn theo từng khâu để đọc báo giá không bị lạc.

Top-down view of a print shop counter in Hanoi, hands of a customer and a staff member pointing at blank paper swatches, a folded blank box sample and a loupe, soft daylight

Thuật ngữ in ấn là thứ ngôn ngữ riêng của xưởng in, phần lớn sinh ra từ thao tác trên máy và trên bàn gia công. Hiểu được chừng bốn mươi từ thông dụng nhất là đủ để bạn đọc một báo giá, hiểu nhân viên kinh doanh đang hỏi gì và nhận ra khi nào hai nhà in đang báo hai thứ khác nhau dưới cùng một tên gọi.

Bài này xếp thuật ngữ theo đúng trình tự một đơn hàng đi qua xưởng: trước khi in, trong khi in, sau khi in và lúc giao nhận. Mỗi từ có nghĩa ngắn và, ở những từ hay gây hiểu lầm, một ghi chú về cách nó xuất hiện trong báo giá. Một số từ có nhiều cách gọi tuỳ vùng và tuỳ xưởng; khi gặp từ lạ, cứ hỏi lại, nhà in làm nghề tử tế không ngại giải thích.

Trước khi in: file, bản và bản thử

Đây là nhóm từ bạn nghe nhiều nhất khi trao đổi file với nhà in hoặc bộ phận chế bản.

Thuật ngữNghĩaGhi chú khi đặt in
File in, file chuẩn inFile đã đủ điều kiện để làm bản và in: đúng khổ, đúng hệ màu, có tràn lề, chữ đã xử lýKhác file thiết kế để xem trên màn hình
Tràn lềPhần hình nền kéo dài ra ngoài đường cắt để khi xén không lộ viền trắngNhà in sẽ báo cần bao nhiêu milimét
Vùng an toànKhoảng cách từ đường cắt vào trong, không đặt chữ quan trọngGiữ chữ khỏi bị xén lẹm
Dàn trangSắp xếp chữ, ảnh trên từng trangViệc của người thiết kế
Bình trangSắp xếp các trang hoặc sản phẩm lên tờ in lớn theo thứ tự để sau khi gấp, xén ra đúngViệc của nhà in, quyết định số con trên tờ
TramCác điểm nhỏ tạo nên sắc độ trên bản inNhìn bằng kính lúp sẽ thấy
Màu phaMực pha sẵn đúng một màu theo bảng màu, in bằng bản riêngMỗi màu pha thêm một bản, thêm chi phí
Ra bản, ra kẽmGhi hình lên bản kẽm để in offsetSau bước này, sửa file là phải làm bản mới
Bản in thửBản in trước khi chạy số lượng để duyệt nội dung và màuHỏi rõ in bằng máy gì, duyệt được màu hay chỉ nội dung
Bản bôngBản in thử dùng để đọc soát nội dung, hay gặp với sách, tài liệuThường không dùng để duyệt màu

Chỗ hay gây tranh cãi nhất trong nhóm này là bản in thử. Khi nhà in nói "có in thử", hãy hỏi tiếp bản thử dùng để duyệt cái gì. Một bản thử nội dung in bằng máy văn phòng không thể dùng làm chuẩn màu khi nhận hàng offset.

Trong khi in: máy, giấy và tờ in

Tờ in, khổ máy. Tờ in là tờ giấy lớn chạy qua máy, trên đó có nhiều sản phẩm. Khổ máy là khổ tờ in lớn nhất máy nhận được. Báo giá offset thường tính theo tờ in chứ không theo sản phẩm.

Con. Số sản phẩm nằm trên một tờ in. "Tờ này bình được tám con" nghĩa là một tờ in cho ra tám sản phẩm sau khi cắt.

Nhíp. Mép tờ giấy để bộ kẹp của máy offset giữ và kéo tờ qua máy. Vùng này không in được, nên ảnh hưởng đến cách bình trang.

Bù hao. Phần giấy in thêm để bù cho tờ hỏng khi canh màu và khi gia công. Báo giá ghi riêng hay gộp chung là điều nên hỏi.

4/0, 4/4, 4/1. Số màu in ở mặt trước và mặt sau. 4/0 là bốn màu một mặt, mặt sau để trắng; 4/4 là bốn màu cả hai mặt; 4/1 là mặt trước bốn màu, mặt sau một màu, thường là đen.

In trở. Cách in hai mặt dùng chung một bộ bản bằng cách lật tờ giấy sau khi in xong mặt đầu. Thợ phân biệt trở nhíp và trở trời theo chiều lật. Tiết kiệm bản nhưng đòi hỏi bình trang phù hợp.

Chồng màu, lệch màu. Các lớp màu phải chồng khít lên nhau. Khi lệch, bạn thấy viền màu lạ quanh chữ hoặc ảnh bị nhoè như có bóng.

Định lượng. Khối lượng giấy tính bằng gam trên mét vuông. Số càng lớn giấy càng dày nặng, nhưng hai loại giấy cùng định lượng có thể dày mỏng khác nhau.

Canh màu, ký mẫu. Thợ chỉnh lượng mực đến khi màu đạt, rồi người có thẩm quyền ký lên tờ mẫu làm chuẩn cho cả lượt chạy.

Sau khi in: gia công thành phẩm

Nhóm từ này chiếm nhiều dòng nhất trong báo giá và cũng là nơi dễ phát sinh chi phí. Phần chọn giấy và so sánh các kiểu gia công có bài riêng ở danh mục giấy, vật liệu và gia công; ở đây chỉ giải nghĩa.

  • Cán màng: dán một lớp màng nhựa mỏng lên bề mặt tờ in, có cán bóng và cán mờ, giúp chống trầy, chống ẩm.
  • Phủ UV: phủ một lớp dung dịch rồi làm khô bằng tia cực tím, tạo bề mặt bóng. Phủ toàn bộ hoặc chỉ một vùng.
  • Phủ UV định hình: chỉ phủ bóng lên một số chi tiết như logo, chữ, tạo tương phản với nền mờ. Cần một file riêng cho vùng phủ.
  • Ép kim, ép nhũ: dùng khuôn nóng ép lớp nhũ kim loại lên giấy, cho màu vàng, bạc, đồng óng ánh mà mực thường không có.
  • Dập nổi, dập chìm: dùng khuôn ép làm chi tiết nổi lên hoặc lõm xuống trên mặt giấy.
  • Bế: dùng khuôn dao cắt sản phẩm theo hình dạng bất kỳ, như hộp, nhãn hình tròn, danh thiếp bo góc lạ.
  • Bế demi: chỉ cắt đứt lớp decal, giữ nguyên lớp đế, để nhãn bóc ra từng cái mà vẫn nằm chung trên tờ.
  • Cấn: tạo một rãnh ép trên giấy để gấp không bị nứt, nhất là giấy dày hoặc in mảng màu đậm.
  • Răng cưa: đục một hàng lỗ nhỏ để xé được, như cuống vé, phiếu dự thưởng.
  • Bồi: dán tờ in lên một lớp giấy dày hoặc carton để tăng độ cứng, thường dùng cho hộp cứng, bìa.
  • Xén: cắt tờ in ra đúng khổ thành phẩm sau khi in và gia công.
  • Đóng ghim giữa: gấp đôi các tờ và dập ghim ở gáy, hợp với cuốn mỏng.
  • Keo gáy: dán gáy bằng keo nhiệt, hợp với cuốn dày vừa phải.
  • Khâu chỉ: khâu các tay sách lại với nhau trước khi vào bìa, bền và mở phẳng tốt hơn.
  • Đóng lò xo: đục lỗ rồi luồn gáy xoắn, mở phẳng hoàn toàn, hợp với lịch bàn, sổ tay, tài liệu đào tạo.
  • Dán hộp: gấp và dán các mép hộp sau khi bế, bằng tay hoặc máy.

Khi so hai báo giá, kiểm từng dòng gia công có giống nhau không. Một bên ghi "cán màng" và một bên ghi "cán màng mờ hai mặt" là hai mức chi phí khác nhau dù trông có vẻ cùng một việc.

Giao nhận: khổ, số lượng và chất lượng

Khổ thành phẩm là kích thước sản phẩm sau cùng mà khách cầm trên tay. Khổ trải là kích thước khi mở phẳng trước khi gấp: một tờ gấp ba khổ thành phẩm A4 dọc có khổ trải rộng gấp ba. Hộp giấy có khổ trải là hình khai triển sau khi bế. Báo giá thường ghi khổ thành phẩm, còn file in phải theo khổ trải, nhầm hai khổ này là lỗi phổ biến khi gửi file.

Dung sai số lượng là mức chênh cho phép giữa số lượng đặt và số lượng giao, do bù hao và tờ hỏng trong gia công. Nhiều nhà in có thông lệ giao dư hoặc thiếu một tỷ lệ nhỏ và tính tiền theo số giao thật. Nếu bạn cần đủ con số chính xác, như số phiếu có đánh số, phải ghi rõ trong đơn.

Hàng lỗi trong ngôn ngữ nhà in gồm lệch màu so với mẫu ký, lệch chồng màu, xén lẹm vào chữ, bế lệch, màng phồng, gáy bung. Mỗi loại lỗi có nguyên nhân và trách nhiệm khác nhau. Khi khiếu nại, chụp ảnh rõ lỗi cạnh bản duyệt, ghi số lượng lỗi trên tổng số kiểm, và giữ lại mẫu. Cách đọc lỗi bản in chi tiết có ở danh mục màu sắc và kiểm bản in.

Thành phẩm có hai nghĩa: sản phẩm đã hoàn chỉnh, và cả khâu gia công sau in. "Bộ phận thành phẩm" trong xưởng là nơi cán, bế, gấp, đóng cuốn. Khi nhà in nói "đang ở khâu thành phẩm", đơn của bạn đã in xong và đang được gia công.

Những cặp từ dễ nhầm

Dàn trang và bình trang. Dàn trang là việc bố trí nội dung trên từng trang, do người thiết kế làm. Bình trang là sắp các trang lên tờ in lớn theo thứ tự đóng cuốn, do nhà in làm. Gửi file đã tự bình trang mà không được yêu cầu thường gây rắc rối.

Cán màng và phủ UV. Cán màng là dán một lớp nhựa mỏng, có thể bóc ra được ở mép. Phủ UV là lớp dung dịch đông cứng bám vào giấy. Cảm giác cầm, độ bền khi gấp và khả năng tái chế khác nhau.

Bế và bế demi. Bế cắt đứt hoàn toàn. Bế demi chỉ cắt lớp trên của decal. Đặt nhầm thì nhãn rơi lả tả hoặc không bóc được.

Cấn và răng cưa. Cấn là ép rãnh để gấp. Răng cưa là đục lỗ để xé. Cả hai đều dùng khuôn trên máy bế nhưng mục đích ngược nhau.

Ép kim và in nhũ. Ép kim dùng lớp nhũ kim loại ép nhiệt, óng ánh như kim loại. In nhũ là in bằng mực có hạt nhũ, ánh mờ hơn. Báo giá ghi "nhũ vàng" cần hỏi lại là ép hay in.

Đen đơn và đen bốn màu. Đen đơn chỉ in bằng mực đen, hợp với chữ. Đen bốn màu pha thêm các màu khác để mảng đen sâu hơn, chỉ dùng cho mảng lớn. Chữ nhỏ dùng đen bốn màu dễ bị nhoè do lệch chồng màu. Chi tiết xử lý trong file có ở danh mục chuẩn bị file in.

Dùng AI làm từ điển riêng cho đơn hàng của bạn

Chatbot AI là công cụ tra thuật ngữ nhanh, nhưng thuật ngữ nghề in tiếng Việt khác nhau giữa các vùng và các xưởng, và AI đôi khi dịch máy móc từ thuật ngữ tiếng Anh ra một từ không ai trong xưởng dùng. Cách làm an toàn:

  1. Chép nguyên văn phần mô tả sản phẩm trong báo giá, xoá tên khách, tên công ty, số điện thoại và giá.
  2. Hỏi: "Giải thích từng thuật ngữ in ấn trong đoạn sau bằng lời đơn giản cho người không làm nghề. Với mỗi từ, ghi thêm từ tương đương tiếng Anh nếu có, và nói rõ từ nào có thể được hiểu khác nhau giữa các nhà in."
  3. Đánh dấu những từ AI nói có thể hiểu khác nhau, hỏi lại nhà in đúng những từ đó.
  4. Ghi lại cách gọi của nhà in quen vào một bảng nhỏ, lần sau dùng đúng từ của họ khi đặt hàng.
  5. Khi AI đưa ra một thông số đi kèm định nghĩa, như số milimét tràn lề hay định lượng giấy, coi đó là thông lệ chung và xác nhận lại với nhà in.

Sau vài đơn, bảng thuật ngữ riêng đó trở thành tài sản nhỏ của bộ phận mua hàng hoặc marketing. Người mới vào chỉ cần đọc một trang là hiểu cách công ty làm việc với nhà in.

Câu hỏi thường gặp

Bình trang có ảnh hưởng đến giá in không?

Có. Bình trang quyết định một tờ in chứa được bao nhiêu sản phẩm, tức là cần bao nhiêu tờ giấy và bao nhiêu lượt chạy. Đổi kích thước thành phẩm vài milimét có khi làm tăng hoặc giảm số con trên tờ, kéo theo giá thay đổi đáng kể.

Giấy bù hao có phải là nhà in tính thêm vô lý không?

Không hẳn. Mọi đơn in offset và gia công đều có tờ hỏng khi canh màu, chỉnh máy bế, chỉnh dao xén. Bù hao là phần giấy dự phòng cho những tờ đó. Điều nên hỏi là tỷ lệ bao nhiêu và đã tính trong giá chưa.

Khổ A4 trong báo giá là khổ trải hay khổ thành phẩm?

Thường là khổ thành phẩm. Với sản phẩm gấp như tờ gấp, menu, hộp, phải hỏi rõ vì file cần làm theo khổ trải. Khi gửi yêu cầu, ghi cả hai kích thước nếu sản phẩm có gấp.

Danh thiếp "cán màng mờ hai mặt, bo góc" nghĩa là gì?

Danh thiếp được dán lớp màng mờ ở cả mặt trước và mặt sau để chống trầy, cảm giác mịn tay, và bốn góc được cắt bo tròn. Bo góc thường làm bằng máy hoặc khuôn riêng, có thể tính phí thêm.

Thuật ngữ in ấn có giống nhau giữa miền Bắc và miền Nam không?

Phần lớn giống, nhưng có những từ gọi khác nhau hoặc dùng từ vay mượn khác nhau tuỳ vùng và tuỳ xưởng. Gặp từ lạ, hỏi nhà in mô tả việc đó bằng lời, hoặc xin xem mẫu thật để chắc hai bên đang nói cùng một thứ.

Có nên dùng thuật ngữ tiếng Anh khi đặt in?

Nhiều nhà in hiểu thuật ngữ tiếng Anh thông dụng như bleed, spot UV, die cut, nhưng không phải ai cũng dùng. Dùng từ tiếng Việt mà nhà in quen, kèm từ tiếng Anh trong ngoặc khi cần, giúp tránh hiểu nhầm.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138